Sự kết hợp đầy bất ngờ của khoa học thần kinh và giáo dục: Neuroeducation

Sự kết hợp đầy bất ngờ của khoa học thần kinh và giáo dục: Neuroeducation

 

Xem bài gốc tại đây

Trong những thập kỷ gần đây chúng ta đã chứng kiến ​​sự nổi lên của một lĩnh vực liên ngành mới nổi mà tập hợp các nhà thần kinh học và nhà giáo dục. Khi các công nghệ như lập bản đồ và quét não tiếp tục nâng cao sự hiểu biết của chúng ta về bộ não con người, các chuyên gia của tiểu ngành đang áp dụng những phát hiện này vào lớp học.

Thay vì dựa trên các giả định truyền thống hoặc cá nhân về học tập, giáo dục bắt đầu được đối xử giống như khoa học. Các nguyên tắc mới, neuroeducation, phục vụ để áp dụng các phương pháp khoa học nhằm thiết kế chương trình và chiến lược giảng dạy. Điều này đi kèm với những nỗ lực để có được sự hiểu biết khách quan hơn về học tập dựa trên các bằng chứng có sẵn.

Neuroeducation là gì?

Tất cả các khả năng của con người, kể cả học tập, là kết quả của hoạt động não của chúng ta. Do đó, một sự hiểu biết tốt hơn về cách hoạt động của bộ não con người có thể dẫn đến một sự hiểu biết tốt hơn về học tập và giảng dạy.

Khi chúng ta tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề và hạn chế của giáo dục truyền thống, nhiều giải pháp có cơ sở khoa học tốt hơn đằng sau cách chúng ta dạy. Mục tiêu của nghiên cứu thần kinh (còn được gọi là giáo dục trí não và thần kinh học) là củng cố cơ sở khoa học trong dạy và học. Lĩnh vực này sử dụng các phát hiện mới nhất từ ​​thần kinh học, tâm lý học, và khoa học nhận thức để thông báo cho giáo dục và do đó, các chiến lược giảng dạy.

Một trách nhiệm đáng kể của lĩnh vực này là làm cho những phát hiện mới nhất có thể truy cập và thiết thực cho các nhà giáo dục và các nhà hoạch định chính sách, những người thường đến từ những nguồn không phải là khoa học. Điều này bao gồm việc đề cập đến bất kỳ “neuromyths” phổ biến (như ý tưởng rộng rãi nhưng đã bị bác bỏ rằng chúng ta chỉ sử dụng 10 phần trăm bộ não của chúng ta) và những hiểu lầm khác về cách thức của tâm trí chúng ta hoạt động.

Các phát hiện chính

Đã có nhiều xu hướng đang diễn ra và những phát hiện trong lĩnh vực này. Ví dụ, chúng ta biết não có thể tiếp tục tái cấu trúc lại và tái cấu hình lại chính nó, ngay cả khi tốc độ thay đổi chậm lại khi chúng ta già đi. Cái gọi là neuroplasticity này là một chủ đề được nghiên cứu rộng rãi trong lĩnh vực thần kinh học.

Điều hấp dẫn là việc dạy những trí tuệ trẻ về thần kinh học và neuroplasticity có thể có tác động tích cực đến việc học của chúng. Một nhóm nghiên cứu tiến hành một nghiên cứu nơi học sinh lớp 7 được dạy rằng học tập làm thay đổi bộ não và trí thông minh có thể được cải thiện. Các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng học sinh trong nhóm thử nghiệm này đã làm bài kiểm tra toán học tốt hơn so với những người không nhận được hướng dẫn đó.

Một loạt các phát hiện khác đáng kể liên quan đến vai trò của cảm xúc trong học tập. Chúng ta biết rằng những cảm xúc tiêu cực như sợ hãi hoặc căng thẳng có thể có một ảnh hưởng bất lợi cho quá trình học tập. Mặt khác, nhiều người đã ghi nhận những tác động mạnh mẽ và tích cực mà việc học dựa trên niềm hăng hái hoặc niềm đam mê có thể có.

Những trạng thái não tích cực này có thể được giải thích trong các nhóm hỗ trợ và hợp tác nhằm tăng khả năng ghi nhớ, Cùng nhau, họ nhấn mạnh tầm quan trọng của một môi trường học tập tích cực, hỗ trợ và không căng thẳng.

Trong việc mở rộng, học tập hiệu quả được coi là một quá trình xã hội đặc biệt. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng từ thời thơ ấu, chúng ta học “tốt hơn thông qua các tín hiệu xã hội như thu hồi và mô phỏng các hành động hay lời nói của người khác”. Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy, học tập chủ động, kinh nghiệm và dựa-trên-vấn-đề thật sự vượt trội hơn các bài giảng truyền thống.

Tầm nhìn tương lai

Nhiều người muốn chỉ ra rằng, khoa học thần kinh, mặc cho tất cả các đột phá của nó, vẫn còn ở giai đoạn trứng nước, như là neuroeducation. Dù thú vị và hữu ích như những phát hiện này, người ta chỉ có thể tưởng tượng chúng ta sẽ có thể đi xa hơn như thế nào.

Trong tương lai, có thể sử dụng dữ liệu cá nhân từ cấu trúc não và hoạt động để hiểu được điểm mạnh và điểm yếu của mỗi người học. Hơn nữa, chúng ta có thể sử dụng thông tin đó để tạo ra các phong cách học được cá nhân hóa. Một số chuyên gia thậm chí hy vọng cho một bản đồ hoàn chỉnh của các synapse của con người để khám phá ra cách học tập được diễn ra và do đó phát triển các chiến lược sinh học để cải thiện học tập.

Kết quả là, sự hiểu biết các cơ chế này cũng mở đường cho một làn sóng các loại thuốc tăng cường nhận thức, trí thông minh cải tiến về di truyền học, và sự tích hợp với các thiết bị AI thông qua các giao diện máy tính-não.

Đầu năm nay, nghiên cứu đầu tiên cho thấy những cải tiến đáng kể đối với các thuốc tăng cường nhận thức modafinil và methylphenidate trong cờ vua đã được đăng tải trên tạp chí European Neuropsychopharmacology. Ngoài ra, một nhóm các chuyên gia đến từ Ý đã thiết lập một kế hoạch cho một nền tảng học tập điện tử hoạt động trên một giao diện máy tính-não được gọi là BRAVO để tùy chỉnh trải nghiệm giáo dục theo phản ứng và sở thích của người dùng.

Đương nhiên, có nhiều thách thức để làm cho các công nghệ đầu cơ này trở thành hiện thực. Theo những lời của Michio Kaku, “Bộ não con người có 100 tỷ neuron, mỗi neuron kết nối với 10.000 neuron khác. Ngồi trên vai chúng ta là vật thể phức tạp nhất trong vũ trụ đã biết. “

Điều quan trọng là phải nhận ra rằng mặc dù sự hiểu biết về bộ não của chúng ta đã đi xa và chúng ta vẫn tiếp tục dự đoán được nhiều đột phá, vẫn còn phải mất nhiều thời gian trước khi chúng ta hiểu được các hoạt động của 86 tỷ neuron và hàng nghìn tỷ kết nối.

Từ Nghiên Cứu Đến Lớp Học

Các nghiên cứu và kết quả được phác thảo trong bài viết này chỉ là một số ít từ neuroeducation. Chúng đại diện cho một bộ phận kiến ​​thức và sự hiểu biết ngày càng tăng về cách học sinh của chúng ta có thể học tốt nhất và làm thế nào để chúng ta có thể cải thiện các chiến lược giảng dạy.

Khám phá và truyền đạt những phát hiện này chỉ là một nửa công việc. Để chúng có một tác động có ý nghĩa, những phát hiện này cần phải được áp dụng một cách có hiệu quả vào giáo dục chính thống. Khi sự hiểu biết của chúng ta về bộ não và học tập tiếp tục cải thiện, chương trình giảng dạy và chiến lược giảng dạy của chúng ta cần phải được cập nhật liên tục để theo kịp với công nghệ.

Viện Khoa học Quốc gia cho rằng có thể không theo đạo lý khi tiếp tục sử dụng cách tiếp cận bài giảng truyền thống khi chúng ta đã có những bằng chứng mạnh mẽ từ nhiều nghiên cứu khác nhau rằng các phương pháp khác hiệu quả hơn nhiều.

Khi khoản nợ vay của sinh viên vượt quá khoản nợ tín dụng khiến cho nhiều sinh viên tốt nghiệp một cách không vui vẻ, các cơ sở giáo dục có nghĩa vụ về đạo đức để cung cấp cho sinh viên một trải nghiệm học tập đem lại cho họ giá trị của số tiền đã bỏ ra, và áp dụng các phát hiện mới nhất từ ​​khoa học thần kinh vào lớp học của họ là một cách để làm như vậy.